Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Bạn biết gì về bệnh bạch biến??

Bach bien là một bệnh ngoài da tạo thàng các vết, đám màu trắng, lý do chủ yếu là vì da của bạn bị mất hoàn toàn sắc tố da(melanin). Rất may là bach bien không có tính lây truyền, nhưng hiện nay để chữa trị được căn bệnh này thì chưa có thuốc chữa được khỏi hoàn toàn. Chỉ có cách cấy ghép da, nhưng đây là một biện pháp thực sự rất tốn kém.
1.Các biểu hiện của bệnh
Bach bien là những nốt nổi thành từng chấm, vết hoặc đám da màu trắng bạch, hoàn toàn mất sắc tố da (melanin) vì ở các vùng đó vắng tế bào sinh sắc tố hoặc có nhưng đã ngừng hoạt động. Các đám Bach bien có ranh giới rõ rệt, viền da lành xung quanh sẫm màu hơn. Da trên đám Bach bien vẫn bình thường không bị teo, cảm giác trên da không biến đổi, không đau ngứa, không tê dại. Lông trên đám Bach bien cũng bị trắng như cước.
Biểu hiện của bệnh bach bien

Số lượng và vị trí của đốm mất sắc tố hay thay đổi, có thể gồm một hoặc nhiều đốm, vị trí thường gặp là mu bàn tay, cổ tay, cẳng tay, lưng, cổ, vùng mặt và vùng sinh dục. Đặc biệt, Bach bien hầu như không gặp ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng niêm mạc. Đôi khi các đốm mất sắc tố xuất hiện xung quanh nốt ruồi, bớt, vết bỏng.
Bệnh tiến triển không theo quy luật, rất khó đoán trước, bệnh nhân thường không biết bệnh khởi phát khi nào. Bệnh có thể xuất hiện ngay sau một chấn thương tinh thần hoặc chấn thương thể chất nặng. Bệnh tiến triển mạn tính, có thể có những đợt nặng lên. Tổn thương thường tăng lên vào mùa hè, giảm đi vào mùa đông hoặc ổn định lâu dài. Ngoài ra, bệnh cũng có tỷ lệ tự khỏi khoảng 15-30%.
Tổn thương Bach bien có thể khu trú hoặc rải rác, đối xứng. Hình tròn, bầu dục hoặc nhiều cạnh nham nhở như bản đồ. Bệnh nhân càng trẻ, thời gian bị bệnh càng ngắn thì có nhiều hy vọng khỏi bệnh hơn. Ngược lại, càng lớn tuổi, bị bệnh càng lâu, triển vọng kết quả điều trị càng kém đi.
2.Bệnh có lây không?
Điều đáng mừng là bệnh hoàn toàn không lây cho người xung quanh, không gây cảm giác đau ngứa, khó chịu gì, không ảnh hưởng sức khỏe, không gây biến chứng về nội tạng nhưng bệnh có thể gây ảnh hưởng sâu sắc về tâm lý khiến bệnh nhân lo lắng, day dứt, mặc cảm về phương diện thẩm mỹ, nhất là khi tổn thương lộ rõ ở các vùng hở (cổ, mặt, bàn tay), nhất là ở những bệnh nhân đang lứa tuổi sắp lập gia đình.
3.Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây bệnh còn chưa được làm rõ mặc dù gần đây đã có nhiều tiến bộ về bệnh lý giải phẫu, tổ chức, hóa sinh, nội tiết, thần kinh, di truyền học… Chỉ mới biết rằng Bach bien là do một khuyết tật gây rối loạn chức phận của các tế bào tạo sắc tố da ở vùng bị bệnh.
Bệnh có thể liên quan đến nhiều yếu tố: xúc động, căng thẳng thần kinh, rối loạn giao cảm, rối loạn thần kinh rễ tủy sống ở vùng tương đương. Một số trường hợp có liên quan đến chức phận tuyến giáp trạng, thượng thận, tuyến yên, tuyến sinh dục, gan, tụy… Hiện nay, phần lớn các tác giả đang tập trung nghiên cứu theo hướng liên quan tới di truyền và tự miễn dịch.
4.Điều trị thế nào?
Vì nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ nên điều trị còn gặp nhiều khó khăn, kết quả thất thường.
Phổ biến nhất là phương pháp dùng các chế phẩm có tác dụng tăng cảm ứng với ánh sáng (cảm quang) toàn thân hoặc tại chỗ như chế phẩm có psoralen (meladinin, melagenin) kết hợp chiếu tia cực tím sóng ngắn hoặc sóng dài tại vùng tổn thương. Cần chú ý là uống thuốc có chất psoralen có thể bị tác dụng phụ: chán ăn, tăng men gan, vàng da. Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi. Bôi tại chỗ các chất cảm quang có thể làm cho đám Bach bien bị đỏ rát phỏng nước. Có thể dùng kết hợp với các thuốc chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn dịch (corticoid, immuran, cyclosporin).
Ngoài ra, cấy tế bào sắc tố vào vùng da Bach bien là một phương pháp hiện đại nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, tốn kém nên chưa được áp dụng rộng rãi.

Trứng và việc chữa vảy nến

Vảy nến là một bệnh khá phổ biến sau eczema. Bệnh ít gây ảnh hường đến sức khoẻ chung của người bệnh, bệnh dai dẳng, để chua vay nen cần kiên trì tuy nhiên bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn và hay tái phát nên ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, lao động và tâm trí người bệnh. Bệnh thường phát về mùa Đông, ở da đầu và mặt ngoài tứ chi, nặng thì có thể phát ra toàn thân, có thể kèm theo sưng đau các khớp tay chân.
 Hơn nữa khi mắc bệnh bên cạnh chua vay nen người bệnh luôn trong tình trạng mặc cảm, luôn u sầu cảm thấy buồn bả, ngại giao tiếp với mọi người bởi da hay bị bong những vảy trắng như sáp nến, vảy rải rác khắp nơi khiến nhiều người xa lánh e dè khi tiếp xúc với người bệnh.
Những người bị bệnh vảy nến để hạn chế bệnh tái phát hoặc rút ngắn thời gian điều trị chua vay nen  thì nên hạn chế sử dụng các thực phẩm dưới đây:
 - Thịt, sữa, trứng: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da, mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên…  
 - Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.
Những thực phẩm người bị bệnh vảy nến cần ưu tiên:
- Rau quả: có nhiều beta-carotin như trái bơ, cà rốt và xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da. Đặc biệt, người bị bệnh vảy nến nên ăn nhiều xúp lơ xanh để bổ sung acid folic là tác nhân sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu trong bệnh vảy nến.  Các loại quả có nhiều beta-carotin như: trái bơ, cà rốt, xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da. Ăn nhiều rau xanh. Ăn càng nhiều lá xanh càng tốt, đặc biệt là cải xoăn.
Chữa vảy nến người bệnh nên ăn nhiều trái cây
chua vay nen người bệnh nên ăn nhiều trái cây

- Cá biển: loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá saba… 3-Omega có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến, bởi thế nên người bị bệnh vảy nến một ngày nên ăn 150g cá biển.
- Nghêu sò: nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ đó là các món ăn vào thêm ngứa. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh dị ứng với hải sản nào đó.   
 - Mè đen: vừa chứa dầu béo có cấu cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng.  
- Tinh chất trà xanh hòa với nước sẽ giúp làm chậm sự phát triển các triệu chứng của bệnh vẩy nến vì thế nó được coi là một thức uống rất tốt cho bệnh nhân bị vảy nến.
  - Uống nhiều nước: nên uống gấp 2 - 3 lần bình thường  
- Cùng với chế độ ăn kiêng thì người bị bệnh vảy nến còn nên có một chế độ luyện tập thể thao hợp lí trong mỗi ngày. Theo nghiên cứu thống kê, nếu người bị bệnh vảy nến biết tuân thủ theo phác đồ chữa vảy nến của bác sĩ và kết hợp với chế độ ăn uống, luyện tập phù hợp thì bệnh sẽ nhanh điều trị khỏi nhanh hơn.

Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

Những tổn thương, biến chứng mà lupus ban đỏ gây ra

Bệnh lupus ban do gây ra nhiều tổn thương, biến chứng trên cơ thể khiến người bệnh lupus gặp khó khăn trong cuộc sống gia đình, xã hội, công việc,… Sau đây Y Dược 365 sẽ cùng Quý bạn đọc tìm hiểu về những tổn thương, biến chứng do bệnh lupus ban do gây ra.

Những tổn thương, biến chứng của bệnh lupus ban đỏ
Những tổn thương, biến chứng của bệnh lupus ban do
Tổn thương da
Nếu như tổn thương hình cánh bướm ở mũi là đặc trưng cho hầu hết những bệnh nhân bị bệnh lupus. Thật ra nó chỉ xuất hiện trong một số ít các trường hợp bị bệnh lupus. Hồng ban cánh bướm ở mũi màu đỏ hồng, gồ lên mặt da, nặng lên khi ra ánh sáng mặt trời. Hồng ban không chỉ ảnh hưởng ở mặt mà còn ở những phần da khác của cơ thể, đặc biệt là ngón tay. Một số tổn thương da hình bóng nước xuất hiện rồi biến mất. Da đầu cũng có thể là ví trí tổn thương của lupus( rụng tóc thành vùng). Ngòai những tổn thương này, còn có 3 loại sang thương khác:
• Lupus dạng đĩa
• Lupus hồng ban bán cấp , thường ở khớp, cổ và cánh tay. Hồng ban này thường thấy ở những người mang kháng thể kháng Ro/SSA. Những tổn thương này rất nhạy cảm với tia cực tím, đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc kháng sốt rét.
• Tổn thương hình lưới : đó là tổn thương dạng bông xuất hiện ở mu bàn tay, chi dưới, đặc biệt gặp ở xương bánh chè(đầu gối). Dấu hiện này khá thường gặp ở những bệnh nhân có hội chứng kháng phospholipide. Da là một trong những cơ quan dễ bị tổn thương nhất. Mặc dù vậy, sinh thiết da hiếm khi dùng để chẩn đoán, vì xét nghiệm máu đặc hiệu hơn nhiều.
Tổn thương khớp
Đau khớp là một đặc tính rất thường gặp của bệnh lupus. Đa số bệnh nhân, tiến triển của bệnh khớp không giống như viêm đa khớp dạng thấp, nghĩa là nó không làm tổn thương sụn và bào mòn xương. Tuy nhiên, đau khớp ít gặp trong giai đọan cấp, có thể rất nặng làm người bệnh không thể đi đứng được trong nhiều ngày. Một số bệnh nhân bị lupus bị bệnh khớp đặc biệt, gọi là bệnh khớp Jaccoud, trong bệnh này cả khớp và dây chằng đều bị. Các ngón tay bị gấp nhẹ. Người bệnh rất khó đối các ngón tay, khó gập các ngón vào lòng bàn tay. Ngón cái thường dạng quá mức. Hơn nữa, người bệnh có thể đau cơ nhiều. Cuối cùng, có thể đứt gân Achille, biến chứng này dễ xảy ra khi dùng corticoid kéo dài.
Tổn thương thận
Thận là mục tiêu nhắm đến trong bệnh lupus ban đỏ rãi rác, bệnh tiến triển rất lâu trong nhiều năm và không triệu chứng. Chỉ có phân tích kỹ và đặc biệt nước tiểu mới giúp chẩn đoán được. Vì vậy chủ yếu là nên đánh giá thường xuyên chức năng thận cũng như huyết áp. Dấu hiệu sớm nhất thường gặp của viêm thận là tiểu ra proteine. Thận là một hệ thống lọc phức tạp, bình thường nó giữ protein lại trong máu không cho thóat qua nước tiểu. Nếu như cầu thận bị tổn thương, protein sẽ thóat ra và vào trong nước tiểu, đặc biệt là albumine.
Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá thường xuyên xem có hay không có albumine trong nước tiểu bằng que nhúng. Nhiều bệnh nhân tự theo dõi ở nhà bằng que nhúng để phát hiện albumine trong nước tiểu. Dấu hiệu thứ hai của bệnh thận là tiểu máu, nghĩa là có hồng cầu trong nước tiểu. Thường phát hiện bằng xét nghiệm nước tiểu qua kính hiển vi, phải làm thường xuyên, nước tiểu được lấy khi đói giúp cho cô đặc hơn. Thứ ba là, bệnh thận cũng có thể được phát hiện bằng biến chứng của tăng huyết áp. Vì vậy bạn nên kiểm tra và theo dõi huyết áp thường xuyên.
Nếu như xét nghiệm nước tiểu nghi ngờ có tổn thương thận, theo kinh điển thì nên sinh thiết thận bằng kim sau khi gây tê tại chỗ. Mẫu bệnh phẩm được quan sát dưới kính hiển vi để xác định mức độ viêm của thận. Ngày nay, người ta xem bệnh thận là một biến chứng cực kỳ nặng trong bệnh lupus ban đỏ rải rác. Với phát hiện sớm, điều trị sẽ khả quan hơn. Vì vậy, điều trị thích hợp rất có hiệu quả. Chỉ có 5 đến 10 % bệnh nhân bị lupus có tổn thương thận cần lọc thận hay thậm chí ghép thận.
Tổn thương mạch máu
Viêm các mạch máu nhỏ(động mạch và tĩnh mạch) là một đặc tính chủ yếu của bệnh lupus. Theo ngôn ngữ y khoa, người ta gọi là viêm mạch máu. Thường hiện tượng này xuất hiện ở đầu chi và ở khủyu. Hiếm hơn là các mạch máu bên trong, đường kính lớn hơn cũng bị ảnh hưởng. Đôi khi mạch máu đáy mắt cũng bị, có màu đỏ hình bó đuốc. Cuối cùng một số bệnh nhân bị lupus có tình trạng tăng đông máu do sự có mặt của kháng thể kháng phospholipides
Tổn thương tim và phổi
Ngoại tâm mạc và màng phổi có thể bị tổn thương viêm trong đợt bùng phát cấp tính của bệnh. Trong trường hợp viêm màng ngoài tim hoặc tràn dịch màng ngòai tim, người bệnh có triệu chứng đau ngực, tăng lên khi hít thở sâu. Thường thì biến chứng này đáp ứng nhanh chóng với điều trị bằng glucocorticoïdes. Mặt khác, bệnh nhân bị lupus ban đỏ cấp tính rải rác dễ bị nhiễm trùng phổi hơn do dùng thuốc ức chế miễn dịch, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể. Viêm phổi biểu hiện triệu chứng là ho có đàm, sốt, khó thở. Cuối cùng, một biến chứng nặng nhất của bệnh lupus là thuyên tắc phổi, thường gặp ở những bệnh nhân trong máu có kháng thể kháng phospholipides. Lâm sàng của thuyên tắc phổi là đau ngực, khó thở cấp tính, ho khạc ra máu. Điều trị thuyên tắc phổi là nhập viện và dùng thuốc kháng đông.
Tổn thương mắt
Khô mắt rất thường gặp. Nhiều trường hợp có kèm theo khô miệng, gọi chung là hội chứng Sjögren. Thông thường, người bệnh không hiểu rằng việc bài tiết nước mắt không đủ. Cần phải khám mắt thường xuyên ở người bị bệnh lupus, vì đó là một trong những nơi hiếm của cơ thể mà mạch máu có thể được quan sát một cách trực tiếp. nhờ vào dụng cụ soi mắt. Các loại thuốc corticoid dùng trong bệnh lupus có thể gây đục thủy tinh thể, thuốc chống sốt rét gây lắng đọng ở giác mạc và võng mạc…
Tổn thương não
Tổn thương não thường liên quan đến bệnh lupus nhưng khó có thể chẩn đóan và đánh giá được. Mặt khác, những biểu hiện ở não có thể là do viêm(viêm mạch máu) hay do thuyên tắc tĩnh mạch ( trong hội chứng kháng phospholipide) hoặc do biểu hiện của nhiễm trùng( nhất là ở bệnh nhân bị ức chế miễn dịch). Người bệnh thường than phiền là đau đầu, động kinh, hội chứng trầm cảm, bệnh tâm thần, rối lọan nhận thức( như rối lọan trí nhớ chẳng hạn) hay có những cử động bất thường. Đau đầu thường gặp trong bệnh lupus, nhưng đau đầu cũng có thể có trước đó nhiều năm.
Ở một số bệnh nhân, đau đầu theo kiểu đau nửa đầu (migrain) kèm theo buồn nôn và ói mửa. Một số trường hợp đau đầu này có liên quan đến những rối loạn đông máu, nhất là do chức năng tiểu cầu. Tai biến mạch máu não, thường kèm liệt ½ người, cử động bất thường. Thường nhất, tai biến xuất hiện vào giai đọan đầu của bệnh. Tai biến có thể kèm theo động kinh nghĩa là co giật đột ngột, mất ý thức và tiểu ra quần.
Đa số bệnh nhân, những triệu chứng này đáp ứng tốt với điều trị. Nhất là dùng glucocorticoïdes, các thuốc ức chế miễn dịch khác và thuốc chống động kinh. Ở đa số bệnh nhân khi bệnh vẫn được kiểm sóat, thì nguy cơ tái phát vẫn có thể xảy ra. Những biểu hiện về thần kinh tâm thần của bệnh lupus chỉ được nhận biết mới đây. Nhiều bệnh nhân bị lupus mắc chứng trầm cảm nặng cần phải nhập viện điều trị. Một số bệnh nhân sợ khoảng không hoặc sợ phòng kín. Một số bệnh nhân bị ảo giác như ảo thanh, ảo thị. Một số hiếm trường hợp, bệnh nhân có thể bị tâm thần phân liệt. Người ta chỉ có thể khẳng định rằng những biểu hiện này cũng có thể nặng, đáp ứng tốt với điều trị nội khoa.
Tổn thương các cơ quan khác
Hạch và lách có thể bị phì đại, đặc biệt là trong giai đoạn cấp của bệnh. Rất thường bị chẩn đóan là « tăng đơn nhân nhiễm khuẩn » ở giai đoạn này trước khi phát hiện kháng thể kháng nhân. Điều lạ là gan hiếm khi bị ảnh hưởng trong bệnh lupus. Vì vậy vàng da trong bệnh lupus không thể coi như hậu quả của bệnh này. Tất cả những yếu tố trong máu ( hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) đều có thể bị ảnh hưởng và giảm.
Nguồn: Y Dược 365 (TH)

Chữa vảy nến nên ăn thêm canh atiso

Bệnh vảy nến gây ra nhiều mặc cảm cho người bệnh, khi mắc bệnh nhiều người đã nghe theo những bài thuốc không rõ nguồn gốc của thầy lang để rồi bệnh thuyên giảm lúc đó nhưng sau đó lại tái phát nặng hơn. Do đó khi mắc bệnh để chữa bệnh vảy nến người bệnh nên đến bệnh viện chuyên khoa da liễu để khám và dùng thuốc của bác sĩ để điều trị bệnh. Ngoài ra theo đông y để phòng và chữa vảy nến nên thanh huyết, mát gan, nhuận phế, trừ phong, tăng cường khí huyết đến nuôi dưỡng bì phu. Khi mắc bệnh vảy nến bên cạnh chua vay nen nên có chế độ ăn phù hợp để cải thiện tình trạng bệnh.
Dưới đây là một số món ăn nên ăn khi mắc bệnh vảy nến:
- Canh khổ qua: khổ qua 2 trái 200g bỏ ruột, đậu phụ non 30g, nấm mèo 20g, miến 20g, thêm gia vị nhồi vào trái đem nấu canh ăn. Công dụng: giải huyết, mát gan, tăng miễn dịch, giải độc. 
- Canh khoai tím: khoai tím 20g, tôm luộc 50g bằm nhỏ, hành ngò gia vị vừa đủ nấu ăn. Công dụng: nhuận phế, bổ âm, dưỡng huyết, mát gan, giải độc.
- Canh bí đao: bí đao 200g, chân gà 2 cặp, làm sạch xắc khúc, hành ngò thêm gia vị nấu canh ăn. Công dụng: sinh phế, mát gan, lợi tiểu.
- Rau díp sốt cà chua: rau díp 100g, dưa leo 100g thái lát, cà chua 2 trái, thịt heo 50g, bằng cách thịt bằm gia vị, cà chua làm nước sốt chấm rau ăn.
- Canh atiso: bông tươi atiso 200g, thịt vịt 50g, gia vị vừa đủ nấu nhừ ăn. Công dụng: bổ huyết, mát gan, nhuận phế, lọc máu, lợi tiểu.

Chữa vảy nến nên ăn thêm canh atiso
Chữa vảy nến nên ăn thêm canh atiso

- Chè đậu xanh: đậu xanh 150g, nấm mèo 20g, lá nha đam 50g tước vỏ cứng, đường cát vừa đủ nấu chè ăn. Công dụng: dưỡng âm, thanh nhiệt, giải độc.
- Canh rau má: rau má 200g, thịt heo nạc băm 20g nấu canh ăn.
- Canh chua cá kèo: giá đậu 100g, dứa 50g, cà chua 30g, cá kèo làm sạch 100g, me, gia vị vừa đủ nấu ăn.
- Giò heo hầm thuốc: sinh địa, xuyên khung, bạch thược, mạch môn 12g, cẩu kỹ, cúc hoa mỗi vị 10g,. Công dụng: bổ huyết, điều huyết, nhuận phế, mát gan.
Ngoài ra nên ăn thêm các loại rau mát, bổ giảu vitamin A, B5, B2 có trong: cà chua, bí đỏ, cà rốt, mồng tơi, lá lốt, yauor. Các loại trái cây: bơ, đủ đủ, chuối, dưa hấu. Nên ăn các loại cá ít dị ứng, lành tính: cá rô, cá lóc, cá basa, cá hồi. Ngũ cốc nên ăn ngạo lức, bắp tươi, mè còn vỏ lụa, nên uống nước mía, bột sắn dây, nước cam, nước nhân trần, các loại nước ép trái cây.
Ngoài việc ăn uống các thức ăn trên nên hạn chế ăn uống các thức ăn có tính nóng như: tiêu, ớt, cari. Hạn chế các thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, thịt cá kho măng, tránh hút thuốc lá, nên kiêng hẳn rượu bia và uống nhiều nước.



Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Lưu ý chữa vảy nến bằng thuốc sinh học


Thuốc sinh học (biological drugs) là các thành phần của cơ thể sống hoặc là sản phẩm tạo ra từ cơ thể sống được sử dụng để phòng ngừa hoặc chua vay nen.

Efalizumab (raptiva)
Được Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) chứng nhận vào năm 2003 để chua vay nen thể mảng vừa và nặng, dai dẳng và khuyến cáo dùng cho các trường hợp không dùng được các thuốc chua vay nen nhóm kháng TNF alpha. Thuốc không có chỉ định cho vảy nến thể khớp vì ít có tác dụng so với các thuốc sinh học khác.
Cần lưu ý, do tác dụng phụ nghiêm trọng làm giảm tiểu cầu nên trước khi điều trị cần xét nghiệm số lượng tiểu cầu và làm lại hàng tháng trong 3 tháng đầu, sau đó cứ 3 tháng kiểm tra 1 lần. Ngoài ra, cần chụp Xquang, xét nghiệm HCG (ở phụ nữ muốn có thai), công thức máu, đặc biệt số lượng bạch cầu, tiểu cầu.
Người bệnh dùng thuốc này có thể bị đau đầu, mệt mỏi, sốt, lạnh run, nhiễm trùng. Ngoài ra có thể gặp hiện tượng vảy nến bùng phát trong tuần điều trị thứ 6 - 12 hoặc tái phát khi dừng thuốc. Một số trường hợp u ác tính, tăng sản bạch cầu và nhiễm trùng cơ hội cũng đã được báo cáo ở bệnh nhân chua vay nen bằng efalizumab.
 Không dùng thuốc trong các trường:
+Hợp mẫn cảm với thuốc, phụ nữ có thai.
+ Lưu ý khi dùng cho người già, suy giảm miễn dịch, giảm tiểu cầu, dùng vaccin sống, đang bị các bệnh nhiễm trùng.
Alefacept (amevive)
Được dùng chua vay nen thể mảng vừa và nặng, dai dẳng. Đây là thuốc đầu tiên trong nhóm có nguồn gốc sinh học được công nhận chua vay nen với hiệu quả kéo dài và ít tác dụng phụ. Bệnh nhân cần phải được kiểm tra CD4 trước khi điều trị và cứ 2 tuần/lần trong quá trình điều trị.
Tác dụng phụ thông thường có thể gặp: đau đầu, ngứa, viêm mũi - họng, tăng nguy cơ nhiễm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp trên. Các tác dụng phụ nghiêm trọng gồm: giảm bạch cầu, nhiễm trùng nặng, suy chức năng gan (do nhiễm virus viêm gan), bệnh ác tính... tuy nhiên rất hiếm gặp. Không dùng thuốc cho người nhiễm HIV, mẫn cảm với thuốc; thận trọng dùng với người đang mắc các bệnh nhiễm trùng, dùng vaccin sống, có tiền sử các bệnh ác tính, phụ nữ có thai.
Nhóm ức chế TNF: 
Nhóm này gồm các thuốc infliximab, etanercept và adalimumab có tác dụng ức chế và làm giảm TNF, là một cytokine tạo ra từ đại thực bào, bạch cầu đơn nhân, lympho T, tế bào sừng và tế bào đuôi gai, có vai trò quan trọng trong quá trình viêm trong bệnh vảy nến. Các thuốc ức chế TNF trở nên quan trọng trong điều trị nhiều bệnh có hiện tượng viêm nổi trội, tuy nhiên theo lý thuyết thì nhóm thuốc này sẽ làm giảm sự đề kháng của cơ thể trước các bệnh nhiễm trùng và khối u, vì vậy cần thận trọng khi sử dụng.
Etanercept được dùng chua vay nen mảng vừa và nặng từ năm 2004. Thuốc này còn được dùng điều trị thấp khớp, vảy nến thể khớp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên tiến triển. Thông thường cải thiện lâm sàng đạt được trong vòng 4-8 tuần dùng thuốc.
Trước khi dùng thuốc nên xét nghiệm công thức máu, máu lắng, ure, creatinin máu, men gan, loại trừ các bệnh suy tim, lao phổi, virus viêm gan C và làm lại sau 3 tháng điều trị.
Tác dụng phụ thường gặp là: phản ứng tại chỗ, ho, nhức đầu. Các tác dụng phụ nặng hơn có thể gặp như nhiễm trùng nặng, thiếu máu, giảm bạch cầu, bệnh bạch cầu ác tính, suy tim tiến triển… Không dùng thuốc với các trường hợp mẫn cảm với thuốc, đang bị bệnh nhiễm trùng. Thận trọng với người có tiền sử bệnh tim mạch, thần kinh, bệnh ác tính, phụ nữ có thai.
Infliximab 
Được FDA chấp thuận chua vay nen mảng dai dẳng vừa và nặng từ năm 2006. Ngoài ra còn được điều trị trong viêm khớp dạng thấp, bệnh Crohn, viêm cột sống dính khớp, vảy nến thể khớp. Do tác dụng nhanh chóng nên infliximab được chỉ định trong các tình trạng cấp tính và cần cải thiện nhanh như đỏ da toàn thân, vảy nến thể mủ, vảy nến khớp. Cải thiện lâm sàng có thể đạt rất nhanh chóng sau 1-2 tuần điều trị.
Khi sử dụng cần kiểm tra loại trừ các bệnh nhân bị lao, làm các xét nghiệm ure, creatinin máu, men gan, virut viêm gan B, - HCG (ở phụ nữ), công thức máu và sau đó theo dõi 3 tháng/lần.
Tác dụng phụ thường gặp là nhức đầu, ngứa ngáy, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Hiện tượng xuất hiện kháng thể kháng infliximab cũng có thể gặp và làm giảm hiệu lực của thuốc. Nghiêm trọng là biểu hiện vượng phát suy tim, bệnh lao, nấm, viêm gan, hội chứng giả Lupus... Cần ngưng điều trị bằng infliximab nếu men gan tăng từ 5 lần trở lên. Không dùng thuốc trong các trường hợp mẫn cảm với các thành phần của thuốc, suy tim tiến triển độ 3, 4. Thận trọng với phụ nữ có thai.
Adalimumab:
 Có chỉ định điều trị tương tự như infliximab. Các xét nghiệm khuyến cáo nên làm là Xquang, công thức máu, chức năng gan, viêm gan B, -HCG. Tác dụng phụ bao gồm phản ứng tại chỗ tiêm, đau đầu, viêm mũi - họng, viêm đường hô hấp, tăng triglyceride, mệt mỏi. Các biểu hiện có thể gặp là nguy cơ nhiễm trùng nặng, nhiễm lao hoặc tái bùng phát, nhiễm nấm, hội chứng giả Lupus, nguy cơ bệnh ác tính, thiếu máu. Cần thận trọng với các trường hợp có bệnh tim mạch, mang thai.
Như vậy, thế hệ của các loại thuốc sinh học đang được ứng dụng và còn tiếp tục được nghiên cứu, phát triển để điều trị hiệu quả nhiều bệnh có liên quan đến cơ chế miễn dịch trong đó có bệnh vảy nến nhằm đạt hiệu quả cao hơn, giảm tác dụng phụ, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Yến mạch với bệnh bạch biến

Bệnh bach bien là một bệnh rối loạn da gây ra bởi các khía cạnh bất thường trong hệ thống miễn dịch của con người, hiện nay cũng rất nhiều người bị mắc bệnh bach bien   Khi thăm khám bác sĩ và phát hiện ra bệnh thì nên kiên trì sử dụng thuốc của bác sĩ để điều trị, ngoài ra khi mắc bệnh này người bệnh cần có một chế độ ăn uống cẩn thận, cân bằng và bổ dưỡng. Một chế độ ăn uống thích hớp rất có lợi cho bệnh bach bien à có thể giúp cân bằng hệ miễn dịch của bạn và bảo vệ bạn khỏi bệnh tật. Giúp phục hồi từ sự đổi màu da bằng cách cung cấp vitamin & khoáng chất tham gia vào quá trình dẫn đến sự hình thành sắc tố mới. 
Một số loại thực phẩm cải thiện tình trạng da của chúng ta và sống khỏe mạnh như yến mạch, ngũ cốc nguyên chất, rau bina, cà chua, tỏi, hoa quả, các loại hạt.... mà  dường như chúng ta không chú ý đến nhiều, thường ít đề cập tới bửa ăn hàng ngày, do đó mỗi gia đình nếu có người mắc bệnh bach bien nên bổ sung thêm vào chế độ ăn, những bửa ăn hàng ngày để giúp người bệnh họ khỏe hơn.
 - Ngũ cốc: nói chung, một nguồn lớn các vitamin, và khoáng chất lấy từ các loại thực phẩm nguyên hạt.
 - Yến mạch: chứa vitamin E, tăng cường phản ứng miễn dịch với nhiễm trùng, nó được nghiên cứu bởi các chuyên gia và báo cáo trong phẫu thuật beta-glucan triệt để kích hoạt hệ thống miễn dịch của người nhiễm vi khuẩn. Beta-glucan cũng tăng cường khả năng của mình để loại bỏ các vi khuẩn họ tìm thấy ở đó cũng giúp làm giảm huyết áp và cholesterol cao.
Yến mạch tốt với bệnh bạch biến
Yến mạch tốt với bệnh bach bien

 - Rau quả: rau bina: đó là rau lá xanh chứa một nguồn lớn của sắt và acid folic, giúp làm giảm mức độ homocysteine ​​trong máu, một chất tự nhiên tạo ra mà có thể thiệt hại mạch máu. Nó cũng chứa chất phytochemical giúp ngăn ngừa sự thoái hóa và bảo vệ làn da của bạn.
- Cà chua:   có chứa nhiều  VitaminC, lycopene, chất chống oxy hóa mạnh mẽ nhất trong số các carotenoid, VitaminC cũng được gọi là acid ascorbic là rất cần thiết cho chức năng cơ thể bình thường.
- Tỏi:  ăn tỏi có tác dụng tốt cho tim và da, có tính kháng khuẩn. Nó là một nguồn cung cấp tuyệt vời các chất mangan, vitamin B6 và vitaminC và tỏi cũng là một nguồn protein và thiamin (vitamin B1) cũng như các khoáng chất phốt pho, selen, canxi, kali, sắt và đồng.
Hơn nữa khi mắc bệnh bach bien người bệnh nên nghỉ ngơi điều độ, sống thoải mái, yêu đời, trắng những căng thẳng trong cuộc sống, nên xắp sếp công việc để có thời gian nghỉ ngơi, tránh căng thẳng, lo âu, stress. Việc điều trị bệnh bach bien là lâu dài, cho nên không được nóng vội, mà phải lạc quan và có niềm tin, thất vọng, chán nản bệnh sẽ càng nặng thêm. 


Lupus ban đỏ hệ thống, căn bệnh ít được biết tới

Tuy là một trong các bệnh tự miễn điển hình, nhưng Lupus ban do hệ thống là bệnh mà ít người được biết đến. Với tính chất nguy hiểm cũng như ảnh hưởng lên toàn bộ hệ thống cơ thể, nên nhận biết về bệnh và phương pháp điều trị là vấn đề cần được quan tâm.

Lupus ban do hệ thống (LBĐHT) thường được gọi đơn giản là bệnh lupus, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1845 bởi Hebra. Đây là một bệnh tự miễn mạn tính, không rõ nguyên nhân, gây tổn thương hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể và trong trường hợp nặng, có thể đe doạ tính mạng người bệnh. Bình thường, hệ miễn dịch giúp cơ thể chúng ta chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ (vi khuẩn, virus…), nhưng trong LBĐHT cũng như các bệnh tự miễn khác, hệ thống miễn dịch mất khả năng phân biệt lạ - quen và quay ra chống lại cơ thể bằng cách sinh ra các kháng thể kháng lại các tế bào của hầu hết các cơ quan. Trong tên của bệnh, Lupus là một từ latin có nghĩa là chó sói, xuất phát từ việc người bệnh thường có ban đỏ đặc trưng ở mặt giống như hình vết cắn của chó sói. Từ ban đỏ để chỉ một dấu hiệu phổ biến ở hầu hết các bệnh nhân LBĐHT. Từ hệ thống được sử dụng do bệnh gây ảnh hưởng đến hầu hết các hệ thống cơ quan trong cơ thể.
Mặc dù LBĐHT là một vấn đề toàn cầu, với hàng triệu người mới mắc hàng năm trên thế giới, nhưng xã hội còn ít biết đến sự tồn tại của nó. Theo nghiên cứu của Hội Lupus Hoa kỳ, hiện nay nước này có khoảng 2 triệu người bệnh LBĐHT, số người bị chết do bệnh tăng từ 879 năm 1979 lên 1046 năm 2002 và 40% số bệnh nhân đã phải nghỉ việc. Ở nước ta, theo nghiên cứu của Khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch mai, nơi chủ yếu tiếp nhận điều trị các bệnh nhân LBĐHT ở các tỉnh phía bắc, bệnh nhân LBĐHT vào điều trị tại khoa luôn chiếm số lượng đông nhất với 400 – 500 bệnh nhân mỗi năm, chiếm hơn 1/3 tổng số bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa.

Nguyên nhân gây bệnh: Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chính thức không được biết rõ nhưng người ta cho rằng LBĐHT được gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là các yếu tố:
·     Di truyền: anh chị em ruột của các bệnh nhân LBĐHT có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 20 lần so với người thường.
·     Môi trường: do nhiễm khuẩn, tiếp xúc với hoá chất, ánh nắng mặt trời…
·     Nội tiết: bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (gấp 9 lần nhiều hơn nam giới), sau khi mãn kinh cả tỷ lệ mắc và mức độ của bệnh đều giảm rõ rệt, còn trong thời kỳ mang thai bệnh thường nặng lên.
lupus ban đỏ hệ thống
Lupus ban đỏ hệ thống  
Biểu hiện của bệnh: các triệu chứng của LBĐHT có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau nhiều tháng, nhiều năm. Do ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể nên triệu chứng của bệnh hết sức phong phú đa dạng và thường nặng lên vào các tháng mùa đông (có lẽ do hậu quả của sự tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời trong thời gian mùa hè trước đó). Hơn 90% số bệnh nhân đến khám có các biểu hiện không đặc hiệu như gầy sút, mệt mỏi, , sốt nhẹ, rụng tóc, viêm loét miệng, đau các khớp nhỏ. đau mỏi cơ, rối loạn kinh nguyệt. Khoảng 3/4 số bệnh nhân thấy nổi các ban đỏ bất thường trên da, trong đó hay gặp nhất là ban cánh bướm ở mặt, một dấu hiệu rất đặc trưng của LBĐHT (ban đỏ ở 2 gò má bắc cầu qua sống mũi). Những tổn thương nội tạng như ở tim (tràn dịch màng tim, viêm cơ tim), ở phổi (tràn dịch màng phổi, viêm phổi), ở thận (viêm cầu thận), ở hệ thần kinh (co giật, rối loạn tâm thần), ở hệ tạo máu (thiếu máu, xuất huyết) thường xuất hiện trong giai đoạn toàn phát của bệnh ở khoảng 50-85% số bệnh nhân và là những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong. Các triệu chứng này thường diễn biến thành từng đợt xen kẽ giữa những thời gian lui bệnh. Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng thường mơ hồ và giống với nhiều bệnh lý khác cho nên kể từ lúc có những triệu chứng đầu tiên cho đến khi bệnh được chẩn đoán chính xác có thể phải mất vài năm.

Điều trị bệnh: Lupus ban do hệ thống không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu điều trị đúng. Mục đích chính của việc điều trị này là nhằm giảm thiểu triệu chứng và hạn chế các tổn thương nội tạng nặng. Trong giai đoạn bệnh đang cấp, người bệnh cần được tăng cường nghỉ ngơi, nhưng vẫn cần một chế độ vận động hợp lý để tránh teo cơ và cứng khớp. Các thuốc chống viêm giảm đau không phải steroid (NSAIDs) như Aspirin, Ibuprofen, Naproxen, Nimesulide có hiệu quả tốt với các triệu chứng ở cơ và khớp. Tác dụng phụ thường gặp nhất của chúng là gây viêm loét dạ dầy tá tràng và để hạn chế tối đa tác dụng phụ này chúng nên được dùng trong bữa ăn. Các loại corticosteroid như prednisolone, methylprednisolone (Solu-medrol, Medrol), prednisone (Cortancyl), betamethasone (Celeston) có tác dụng chống viêm mạnh hơn nhóm NSAIDs nhưng cũng nhiều tác dụng phụ hơn và chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng có tổn thương nội tạng. Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này là viêm loét dạ dầy tá tràng, tăng đường máu, loãng xương, rạn da, tăng nguy cơ nhiễm trùng, ức chế tuyến thượng thận, chúng nên được uống một lần sau bữa ăn sáng. Các thuốc chống sốt rét như Hydroxychloroquine, Chloroquine có hiệu quả khá tốt với các tổn thương ở da và khớp. Các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (Imuran), cyclophosphamide (Endoxan), cyclosporin (Sandimmun) chỉ dùng trong những trường hợp nặng không đáp ứng với corticosteroid đơn thuần do chúng thường có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Cho đến nay, chưa có một loại thuốc đông dược nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị LBĐHT. Do đó, người bệnh nên hết sức thận trọng khi sử dụng các thuốc này, vì chúng cũng có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn cho người bệnh, thậm chí có thể đe doạ tính mạng của họ.

Làm thế nào để dự phòng các đợt cấp của bệnh? Người bị mắc bệnh LBĐHT cần có một cuộc sống lành mạnh, năng vận động, ít sang chấn tâm lý. Ngoài ra, Tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thường khởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh nên cần được tránh tiếp xúc tối đa. Việc ngừng đột ngột các thuốc, đặc biệt corticosteroid cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đợt cấp của bệnh và do đó cũng cần được tránh.

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

Thức ăn giúp hỗ trợ chữa vảy nến

Bệnh vảy nến là bệnh thường xuất hiện ở người trẻ, tuổi từ 15 đến 25, là lứa tuổi mới lớn đang cần làm duyên làm dáng khi mắc phải bệnh này thì tâm trạng rối bời lo âu, mệt mỏi do việc dùng thuốc để chữa vảy nến thì dùng càng nhiều mà không thấy giảm bởi bệnh vảy nến hiện nay chưa có thuốc chữa bệnh khỏi hoàn toàn chính vì thế ngày lo buồn, chán nản. Đã thế, nguyên nhân của bệnh lại đa dạng khó lường. Có nhiều phương pháp điều chua vay nen, từ cách dùng tia tử ngoại, tia laser mềm cho đến ngâm tẩm bằng dược thảo. Hình thức thường được áp dụng vẫn là các loại thuốc có chứa corticosteroid, dù hiệu quả vẫn chưa được như mong muốn do 2 trở ngại cơ bản: bệnh không dứt hẳn sau khi ngưng thuốc, thuốc có nhiều phản ứng phụ tai hại không thua căn bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh vảy nến nhưng nhiều thầy thuốc hướng về với "dinh dưỡng liệu pháp" nhằm dùng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm thay vì các chất dễ gây hại trong dược phẩm. 
Những thực phẩm mà các gia đình thường hay ăn nhưng đôi khi lại không để ý đến  những công dụng của nó như:
 - Cá biển loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá sa ba. Kết quả nghiên cứu cho thấy với 150 g cá mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục, có thể ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến.

- Rau quả có nhiều beta-caroten như trái bơ, cà rốt và nhất là xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.

- Mè đen, vì chúng vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự 3-Omega vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho tiến trình tổng hợp lớp sợi liên kết dưới da.

- Bông cải xanh để bổ sung acid folic cần thiết cho phản ứng tổng hợp kháng thể. Chất này rất dễ thiếu trong người bị bệnh vảy nến.
- Nghêu, sò nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến với hải sản. Nếu dị ứng tất nhiên phải tránh nhưng đa số người bệnh vảy nến lại không gặp trục trặc với tôm, cá. 
Chữa bệnh vảy nến người bệnh ăn thêm hải sản
Chua vay nen người bệnh nên ăn thêm hải sản

 
Mặt khác, người bệnh vảy nến nên nói không với các món sau đây khi bệnh đang phát tán: thịt, sữa, trứng (vì chứa nhiều chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên).
Rượu, bia (vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng phóng thích các loại chất đạm sinh dị ứng).  Hơn nữa, khả năng giải độc rượu của gan suy giảm rất nhiều ở người bị vảy nến, rrượu, bia có thể gây những đợt bùng phát vảy nến vì kích thích sự phóng thích histamine làm nặng thương tổn da. Với cùng một lượng rượu nhưng độ cồn trong máu của người bệnh vảy nến bao giờ cũng cao tối thiểu gấp đôi nếu so với người không bệnh.
Bên cạnh đó, các chuyên gia khuyên người mắc bệnh vảy nến nên tránh một số thức phẩm như sau: thực phẩm chiên xào và chế biến sẵn, thức ăn nhiều gia vị, hạt tiêu, chocolate, trứng, chế độ ăn không có gluten,  có thể tốt cho bệnh nhân dị ứng hay nhạy cảm với gluten...
Ngoài ra, một số thức ăn có thể làm tăng hay giảm tác dụng của một số thuốc điều trị vảy nến. Người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ về loại thức ăn nào nên tránh khi đang sử dụng thuốc để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất. Người bệnh vảy nến cần thực hiện 1 chế độ ăn hợp lý, kết hợp với tập thể dục thường xuyên để duy trì cân nặng vừa phải nhằm giảm mức độ của vảy nến và hạn chế nguy cơ mắc các bệnh lý có liên quan.


Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Điều trị bạch biến bằng thuốc

Ngoài những biện pháp tốn kém như dùng phương pháp quang hóa trị liệu, ghép da... để điều trị bệnh bach bien thì có một số cách đơn giản, tiết kiệm hơn đó là dùng thuốc. Hiện nay có một số loại thuốc điều trị bệnh bach bien hiệu quả.

1.Corticosteroids
Đối với các sang thương giới hạn, corticosteroids bôi tại chỗ có thể được coi là thuốc đầu tay để điều trị bệnh này. Thuốc có tác dụng tốt nhất ở vùng mặt, sau đó tới các vùng cổ, tứ chi (trừ vị trí ngón tay, ngón chân). Thuốc nên được bôi loại tác dụng mạnh trong 1-2 tháng đầu, sau đó giảm liều dần bằng corticosteroid yếu hơn.Với trẻ em và sang thương trên diện rộng, nên dùng corticosteroid loại tác dụng trung bình. Cẩn thận khi dùng quanh mắt vì thuốc có thể gây tăng nhãn áp. Trong quá trình điều trị, cần được theo dõi vùng da bôi thuốc bằng đèn Wood, nếu không đáp ứng sau 3 tháng điều trị nên ngưng bôi thuốc.Tuy corticosteroid giúp bệnh thuyên giảm nhưng vẫn có thể tái phát sau khi ngưng thuốc. Ngoài ra, thuốc có tác dụng phụ gây teo da, giãn mạch, rạn da… do đó trong quá trình điều trị cần được theo dõi kỹ.
2.Thuốc điều hòa miễn dịch tại chỗ
Bao gồm tacrolimus ointment 0,03% – 0,1% hay pimecrolimus 1%, bôi 2 lần/ngày đặc biệt ở mặt và cổ. Thuốc hiệu quả hơn khi phối hợp với quang trị liệu chiếu tia cực tím (UVB) hay laser excimer và an toàn hơn corticosteroids khi dùng cho trẻ em.
3.Calcipotriol tại chỗ
Calcipotriol 0,005%, dễ chấp nhận về mặt thẩm mỹ và có thể phối hợp corticosteroid tại chỗ cho cả người lớn và trẻ em để sắc tố tái tạo nhanh và ổn định hơn.
4.Pseudocatalase phối hợp với UVB
Da bệnh nhân bạch biến có rất ít catalase là một enzym giúp giảm tổn hại da. Do đó điều trị thay thế bằng pseudocatalase kết hợp với UVB dải sóng hẹp có thể tăng tái tạo sắc tố da và ngăn bệnh tiến triển.
5.Điều trị toàn thân
thuốc ức chế miễn dịch có nhiều tác dụng phụ, ít được chỉ định trong điều trị toàn thân. Corticosteroid có thể dùng điều trị, giúp ngăn ngừa tình trạng mất sắc tố diễn tiến nhanh.
6.Khử sắc tố (depigmentation)
Kem bôi monobenzyl ether của hydroquinone (monobenzone) là chất duy nhất làm da bình thường mất dần sắc tố ở bệnh nhân bạch biến có diện tích lớn. Đây là độc chất phenol, hủy melanocytes thượng bì làm mất sắc tố da khi dùng kéo dài, giúp tạo nên sự đồng nhất màu da dễ chấp nhận về mặt thẩm mỹ đối với bệnh nhân có sự tương phản rõ rệt giữa da bệnh với da lành chung quanh.
Những lưu ý khi bôi loại thuốc này là cần tránh  tiếp xúc trực tiếp với người khác 1 giờ sau khi bôi thuốc vì có thể làm tổn hại cho da người tiếp xúc. Monobenzone dễ làm da bị kích thích và có thể gây phản ứng mẫn cảm.

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Lupus ban đỏ hệ thống, căn bệnh ít được biết tới

Tuy là một trong các bệnh tự miễn điển hình, nhưng Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh mà ít người được biết đến. Với tính chất nguy hiểm cũng như ảnh hưởng lên toàn bộ hệ thống cơ thể, nên nhận biết về bệnh và phương pháp điều trị là vấn đề cần được quan tâm.
Lupus ban do hệ thống (LBĐHT) thường được gọi đơn giản là bệnh lupus, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1845 bởi Hebra. Đây là một bệnh tự miễn mạn tính, không rõ nguyên nhân, gây tổn thương hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể và trong trường hợp nặng, có thể đe doạ tính mạng người bệnh. Bình thường, hệ miễn dịch giúp cơ thể chúng ta chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ (vi khuẩn, virus…), nhưng trong LBĐHT cũng như các bệnh tự miễn khác, hệ thống miễn dịch mất khả năng phân biệt lạ - quen và quay ra chống lại cơ thể bằng cách sinh ra các kháng thể kháng lại các tế bào của hầu hết các cơ quan. Trong tên của bệnh, Lupus là một từ latin có nghĩa là chó sói, xuất phát từ việc người bệnh thường có ban đỏ đặc trưng ở mặt giống như hình vết cắn của chó sói. Từ ban đỏ để chỉ một dấu hiệu phổ biến ở hầu hết các bệnh nhân LBĐHT. Từ hệ thống được sử dụng do bệnh gây ảnh hưởng đến hầu hết các hệ thống cơ quan trong cơ thể.
Mặc dù LBĐHT là một vấn đề toàn cầu, với hàng triệu người mới mắc hàng năm trên thế giới, nhưng xã hội còn ít biết đến sự tồn tại của nó. Theo nghiên cứu của Hội Lupus Hoa kỳ, hiện nay nước này có khoảng 2 triệu người bệnh LBĐHT, số người bị chết do bệnh tăng từ 879 năm 1979 lên 1046 năm 2002 và 40% số bệnh nhân đã phải nghỉ việc. Ở nước ta, theo nghiên cứu của Khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch mai, nơi chủ yếu tiếp nhận điều trị các bệnh nhân LBĐHT ở các tỉnh phía bắc, bệnh nhân LBĐHT vào điều trị tại khoa luôn chiếm số lượng đông nhất với 400 – 500 bệnh nhân mỗi năm, chiếm hơn 1/3 tổng số bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa.
Nguyên nhân gây bệnh: Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chính thức không được biết rõ nhưng người ta cho rằng LBĐHT được gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là các yếu tố:
·     Di truyền: anh chị em ruột của các bệnh nhân LBĐHT có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 20 lần so với người thường.
·     Môi trường: do nhiễm khuẩn, tiếp xúc với hoá chất, ánh nắng mặt trời…
·     Nội tiết: bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (gấp 9 lần nhiều hơn nam giới), sau khi mãn kinh cả tỷ lệ mắc và mức độ của bệnh đều giảm rõ rệt, còn trong thời kỳ mang thai bệnh thường nặng lên.
lupus ban đỏ hệ thống
Lupus ban đỏ hệ thống  
Biểu hiện của bệnh: các triệu chứng của LBĐHT có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau nhiều tháng, nhiều năm. Do ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể nên triệu chứng của bệnh hết sức phong phú đa dạng và thường nặng lên vào các tháng mùa đông (có lẽ do hậu quả của sự tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời trong thời gian mùa hè trước đó). Hơn 90% số bệnh nhân đến khám có các biểu hiện không đặc hiệu như gầy sút, mệt mỏi, , sốt nhẹ, rụng tóc, viêm loét miệng, đau các khớp nhỏ. đau mỏi cơ, rối loạn kinh nguyệt. Khoảng 3/4 số bệnh nhân thấy nổi các ban đỏ bất thường trên da, trong đó hay gặp nhất là ban cánh bướm ở mặt, một dấu hiệu rất đặc trưng của LBĐHT (ban đỏ ở 2 gò má bắc cầu qua sống mũi). Những tổn thương nội tạng như ở tim (tràn dịch màng tim, viêm cơ tim), ở phổi (tràn dịch màng phổi, viêm phổi), ở thận (viêm cầu thận), ở hệ thần kinh (co giật, rối loạn tâm thần), ở hệ tạo máu (thiếu máu, xuất huyết) thường xuất hiện trong giai đoạn toàn phát của bệnh ở khoảng 50-85% số bệnh nhân và là những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong. Các triệu chứng này thường diễn biến thành từng đợt xen kẽ giữa những thời gian lui bệnh. Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng thường mơ hồ và giống với nhiều bệnh lý khác cho nên kể từ lúc có những triệu chứng đầu tiên cho đến khi bệnh được chẩn đoán chính xác có thể phải mất vài năm.
Điều trị bệnh: LBĐHT không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu điều trị đúng. Mục đích chính của việc điều trị này là nhằm giảm thiểu triệu chứng và hạn chế các tổn thương nội tạng nặng. Trong giai đoạn bệnh đang cấp, người bệnh cần được tăng cường nghỉ ngơi, nhưng vẫn cần một chế độ vận động hợp lý để tránh teo cơ và cứng khớp. Các thuốc chống viêm giảm đau không phải steroid (NSAIDs) như Aspirin, Ibuprofen, Naproxen, Nimesulide có hiệu quả tốt với các triệu chứng ở cơ và khớp. Tác dụng phụ thường gặp nhất của chúng là gây viêm loét dạ dầy tá tràng và để hạn chế tối đa tác dụng phụ này chúng nên được dùng trong bữa ăn. Các loại corticosteroid như prednisolone, methylprednisolone (Solu-medrol, Medrol), prednisone (Cortancyl), betamethasone (Celeston) có tác dụng chống viêm mạnh hơn nhóm NSAIDs nhưng cũng nhiều tác dụng phụ hơn và chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng có tổn thương nội tạng. Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này là viêm loét dạ dầy tá tràng, tăng đường máu, loãng xương, rạn da, tăng nguy cơ nhiễm trùng, ức chế tuyến thượng thận, chúng nên được uống một lần sau bữa ăn sáng. Các thuốc chống sốt rét như Hydroxychloroquine, Chloroquine có hiệu quả khá tốt với các tổn thương ở da và khớp. Các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (Imuran), cyclophosphamide (Endoxan), cyclosporin (Sandimmun) chỉ dùng trong những trường hợp nặng không đáp ứng với corticosteroid đơn thuần do chúng thường có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Cho đến nay, chưa có một loại thuốc đông dược nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị LBĐHT. Do đó, người bệnh nên hết sức thận trọng khi sử dụng các thuốc này, vì chúng cũng có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn cho người bệnh, thậm chí có thể đe doạ tính mạng của họ.
Làm thế nào để dự phòng các đợt cấp của bệnh? Người bị mắc bệnh LBĐHT cần có một cuộc sống lành mạnh, năng vận động, ít sang chấn tâm lý. Ngoài ra, Tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thường khởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh nên cần được tránh tiếp xúc tối đa. Việc ngừng đột ngột các thuốc, đặc biệt corticosteroid cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đợt cấp của bệnh và do đó cũng cần được tránh.

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Một vài điều cần biết về bệnh lupus ban đỏ

Bệnh lupus ban do hệ thống là một loại trong những bệnh hay gặp nhất của bệnh tổ chức tạo keo, đây là bệnh tự sinh ra kháng thể để chống lại chính bản thân mình và có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, không chỉ ở ngoài da mà còn biểu hiện ở tất cả các cơ quan nội tạng khác.

Đối tượng dễ mắc bệnh lupus ban do

  • Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ. Theo thống kê quốc tế cũng như nghiên cứu ở Trung tâm dị ứng miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ giữa phụ nữ bị bệnh lupus ban đỏ hệ thống so với nam giới là 9//1.
  • Lứa tuổi hay gặp là từ 20 đến 40 tuổi, lứa tuổi con người khỏe mạnh nhất, cơ quan miễn dịch phát triển tốt nhất.

Phân loại bệnh lupus ban do:

Lupus dạng đĩa và lupus ban đỏ hệ thống
  • Nhẹ: Lupus chỉ xuất hiện ngoài da
  • Nặng: lupus ban đỏ xuất hiện ở ngoài da và cả ở nội tạng

Ảnh hưởng của bệnh lupus ban do tới sức khỏe:

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một trong những bệnh tự miễn, vì vậy bệnh sẽ tồn tại đến hết cuộc đời, bệnh ngày càng nặng, các đợt sau tiến triển càng nặng hơn đợt trước và biểu hiện ở tất cả các cơ quan. Trước tiên biểu hiện ở ngoài da (chiếm 70-80% bệnh nhân lupus), có tổn thương về tim mạch, thận, khớp, thần kinh, tâm thần, tế bào máu và các cơ quan khác. Nơi nào có mạch máu thì nơi đó có tổn thương của bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
Bệnh lupus dạng đĩa: lành tính hơn, chủ yếu chỉ xuất hiện ở ngoài da và điều trị cho kết quả tốt. Có từ 5 đến 10% chuyển từ lupus dạng đĩa sang lupus ban đỏ hệ thống.
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh rất nặng, cho đến nay chưa có thuốc điều trị hữu hiệu, đặc hiệu để chữa khỏi bệnh này. Chữa bệnh chủ yếu để giảm đi đợt bệnh cấp, giảm đi tác dụng có hại của thuốc, duy trì cuộc sống tốt hơn cho người bệnh trong điều kiện bị mắc bệnh.
Bệnh lupus ban do hệ thống ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của người bệnh, đến lao động, cuộc sống bình thường của họ.

Các cách chữa vảy nến tại nhà

Mọi người đều nghỉ rằng việc chua vay nen sẽ rất khó khăn. Nhưng có một số cách đơn giản, có thể thực hiện tại nhà để hạn chế tình trạng của vảy nến.

Sử dụng những sản phẩm bổ sung
Bổ sung vào chế độ ăn uống hàng ngày một số sản phẩm như dầu cá, vitamin D, dầu cây kế sữa, dầu hoa anh thảo vào mỗi buổi tối có thể giúp giảm bớt các triệu chứng khó chịu của bệnh vảy nến. Trong một số trường hợp, dầu cá bôi trực tiếp lên da cũng có tác dụng tốt.
Duy trì độ ẩm trên da
Sử dụng máy tạo độ ẩm để giữ cho không khí trong nhà và văn phòng làm việc luôn ẩm ướt. Nó có thể ngừa ngừa tình trạng khô da và trầm trọng hơn bệnh vảy nến. Sử dung kem dưỡng ẩm dành cho da nhạy cảm cũng rất hữu ích trong việc giảm hình thành mảng bong tróc trên da.
Không sử dụng thuốc nhuộm và nước hoa
Hầu hết xà phòng và nước hoa đều chứa các thành phần gây kích ứng da, viêm da. Đối với người bị bệnh vảy nến nên chọn các sản phẩm chiết xuất tự nhiên, dành cho da nhạy cảm.
Chế độ ăn
Chế độ ăn uống đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các triệu chứng của bệnh vảy nến. Loại bỏ thịt đỏ và các thực phẩm béo có hiệu quả đối với một số trường hợp. Đậu nành, sô cô la, nam việt quất được coi là những thực phẩm có hiệu quả trong việc chua vay nen
Dầu oliu cũng có tác dụng giữ ẩm cho làn da. Bôi dầu oliu hay dầu thực vật lên vùng da bị vảy nến có tác dụng giữ gìn độ ẩm và chất dinh dưỡng trong da.
Lưu ý khi tắm
Theo các chuyên gia da liễu, nước nóng là kẻ thù của làn da nhưng tắm nước ấm với muối Epsom, dầu khoán, sữa, dầu ô liu có tác dụng làm dịu tình trạng ngứa và lan rộng của bệnh vảy nến. Sử  dụng kem dưỡng ẩm sau khi tắm là một chua vay nen hiệu quả.

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Bạn đã biết gì về bệnh bạch biến?

bach bien là một bệnh mất sắc tố ở da, lông, tóc. Tỉ lệ mắc bệnh khoảng 1-2% dân số, người da màu mắc bệnh nhiều hơn da trắng. Bệnh có ở mọi lứa tuổi nhưng thường ở người trẻ. Bệnh có thể kết hợp với một số bệnh khác như đái đường, bệnh của chất tạo keo, các bệnh ác tính, thiếu máu kéo dài, bệnh tuyến giáp, xơ gan...
 
Nguyên nhân
Cơ chế sinh bệnh bach bien rất phức tạp, chưa biết một cách tường tận, nhưng bệnh có liên quan đến các yếu tố thần kinh - thể dịch... tác nhân của hóa chất, cơ chế rối loạn miễn dịch.
 
Triệu chứng
Các triệu chứng chính chỉ ở ngoài da. Thương tổn da là những đốm da mất sắc tố, màu rất trắng, kích thước của các đốm cũng thay đổi từ một đến nhiều cm. Ðốm mất sắc tố thường có hình tròn không đều, đôi khi không có hình dạng gì cả. Bề mặt da trơn láng không sưng, lông trên vùng da bệnh cũng bị bạc trắng, màu trắng của da bệnh có khi đồng nhất nhưng đôi khi loang lổ, chỗ trắng lẫn với màu da thường. Ðốm có giới hạn rõ ràng với da lành và vùng da lành quanh đốm đậm màu hơn da thường. Tuy hiếm nhưng cũng có một vài trường hợp đốm da mất sắc tố lan ra khắp người. Da, lông, tóc, toàn thân là một màu trắng.
 
Vị trí bị bệnh thường gặp nhất là mặt, phần trên của ngực, mặt lưng bàn tay, nách, háng, mắt, mũi, quanh miệng, tai, núm vú, rốn, cơ quan sinh dục ngoài. Các thương tổn da cũng thường có khuynh hướng phát triển ở vùng da bị chấn thương, bỏng.
 
Diễn tiến
Diễn tiến thường khó biết trước được. Các đốm trắng có thể tồn tại lâu dài không có thay đổi gì cả, hoặc có thể lan rộng ra từ từ, hoặc tự thu nhỏ lại. Có một tỉ lệ nhỏ từ 15-25% trường hợp có thể tự lành, nhưng đa số tồn tại kéo dài có khi suốt đời, ngoài ra thì không có biến chứng gì.
 
Ðiều trị
bach bien là một bệnh rất khó điều trị, có nhiều phương pháp điều trị được áp dụng, nhưng cho đến nay, y học vẫn chưa có thuốc nào trị khỏi bệnh hoàn toàn. Các phương pháp điều trị thường dựa trên việc dùng thuốc làm tăng cảm ứng với ánh nắng kết hợp với chiếu tia cực tím hay tắm nắng. Có thể phẫu thuật cấy tế bào hắc tố, dùng các thuốc bôi có chất streroid để làm giảm miễn dịch tại chỗ v.v...
 
Tóm lại, bach bien là một bệnh da làm mất thẩm mỹ nhưng không ảnh hưởng sức khỏe chung. Là một bệnh khó điều trị và khi đã quyết định điều trị thì phải kiên nhẫn dùng thuốc trong một thời gian dài và có thể bị một số tai biến do điều trị, do đó cần phải có thầy thuốc chuyên khoa chỉ định và theo dõi.